Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Tế Hoàn Mỹ Thủ Đức

Địa chỉ: 241 Quốc lộ 1K, phường Linh Xuân, Tp. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.

Điện thoại: (+84) 2873 062 062 Email: bvhoanmythuduc@hoanmy.com

BỆNH BẠCH HẦU | BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ HOÀN MỸ THỦ ĐỨC | Thành viên Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ
Quay lại

BỆNH BẠCH HẦU

10-06-2021

Tổng quan
Bệnh bạch hầu là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn bạch hầu có tên khoa học là Corynebacterium diphtheria gây ra, có khả năng lây lan mạnh và nhanh chóng tạo thành dịch. Đây là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính tạo ra giả mạc ở tuyến hạnh nhân (amidan), hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu.
Bệnh bạch hầu có thể được điều trị bằng thuốc. Nhưng ở giai đoạn nặng, bệnh bạch hầu có thể gây hại cho tim, thận và hệ thần kinh. Ngay cả khi được điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây chết người, đặc biệt là ở trẻ em.
Bạch hầu là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất là ở trẻ em nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng việc tiêm chủng đầy đủ cho trẻ.
Triệu chứng
Các dấu hiệu và triệu chứng bạch hầu thường bắt đầu từ hai đến năm ngày sau khi bị nhiễm bệnh
  
Bạch hầu thanh quản: Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm, đặc biệt ở trẻ em. Biểu hiện tại chỗ là giả mạc thanh quản và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, liệt thần kinh sọ não, thần kinh cảm giác, thần kinh vận động ngoại biên và viêm cơ tim, có thể gây tử vong trong vòng 6 – 10 ngày. Tỷ lệ tử vong do bệnh là 5 - 10%.
Bạch hầu ở da: một loại bệnh bạch hầu có thể ảnh hưởng đến da, gây đau, mẩn đỏ và sưng tấy tương tự như các bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn khác. Vết loét được bao phủ bởi một lớp màng xám cũng có thể phát triển trong bệnh bạch hầu trên da.
Ở một số người, nhiễm vi khuẩn bạch hầu gây ra chỉ gây ra các triệu chứng bệnh nhẹ hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng nào cả. Những người bị nhiễm bệnh nhưng vẫn không biết về căn bệnh của mình được gọi là người lành mang bệnh bạch hầu, bởi vì họ có thể lây truyền bệnh cho cộng động mà không có triệu chứng bị bệnh.
Khi nào gặp bác sĩ
Đến cơ sở y tế khám ngay khi bất kỳ ai trong gia đình có các biểu hiện của bạch hầu như đã mô tả ở trên, hoặc bạn thấy ai đó có biểu hiện giống bạch hầu, hoặc khi trong gia đình bạn có người tiếp xúc với bệnh nhân bạch hầu. Nếu không chắc chắn liệu trẻ đã được tiêm phòng bệnh bạch hầu hay chưa, thì phụ huynh cũng nên đưa con đến cơ sở y tế khám và kiểm tra lại vấn đề này. Phụ huynh hãy đảm bảo con mình được tiêm vacxin bạch hầu đầy đủ và đúng lịch.
Nguyên nhân
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae
 
Ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn. Đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh. Người bệnh thường đào thải vi khuẩn từ thời kỳ khởi phát, thời kỳ lây bệnh có thể kéo dài khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn. Người lành mang vi khuẩn bạch hầu có thể từ vài ngày đến 3,4 tuần.
Bệnh bạch hầu có thể lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp khi tiếp xúc với đồ chơi, vật dụng có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu.
Người khỏe cũng có thể tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh bạch hầu khi chạm vào vết thương bị nhiễm trùng. Những người đã bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu nhưng chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người khỏe mạnh - ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.
Yếu tố nguy cơ
Những người có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu bao gồm:
-    Trẻ em và người lớn không được tiêm vacxin bạch hầu
-    Những người sống trong điều kiện đông đúc hoặc mất vệ sinh
-    Bất cứ ai đi du lịch đến một khu vực đang có dịch bệnh bạch hầu mà chưa tiêm phòng vacxin hoặc đã tiêm phòng nhưng miễn dịch bảo vệ không còn đủ (Miễn dịch bảo vệ sau tiêm vacxin thường kéo dài khoảng 10 năm, hiệu quả bảo vệ của vacxin lên đến 97% nhưng giảm dần theo thời gian, do vậy nếu không tiêm nhắc lại vẫn có thể mắc bệnh)
Chẩn đoán
-    Chẩn đoán sớm và nhanh bệnh bạch hầu chủ yếu dựa trên lâm sàng: trẻ có tiếp xúc trước đó với nguồn bệnh, tiền sử chủng ngừa không rõ ràng, có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ như: sốt nhẹ, ho, và đau họng, giọng khàn. Khám họng có giả mạc ở một hoặc 2 bên amidan thì chẩn đoán được đặt ra. Muốn xác định dựa vào soi giả mạc và nuôi cấy vi khuẩn với sự hiện diện của C. Diphtheriea.
-    Bác sĩ cũng có thể lấy mẫu mô từ vết thương bị nhiễm, như ở da và làm xét nghiệm trong phòng xét nghiệm để kiểm tra loại vi khuẩn bạch hầu gây bệnh trên da (cutaneous diphtheria).
Điều trị
Hiện nay, đã có thuốc để điều trị bệnh bạch hầu. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiến triển, bệnh bạch hầu có thể gây biến chứng trên tim, thận và hệ thần kinh của người bệnh. Ngay cả khi được điều trị, bệnh bạch hầu vẫn có thể gây tử vong với tỷ lệ 3%, tỷ lệ này còn cao hơn ở trẻ em dưới 15 tuổi.
Thuốc
Kháng độc tố
Bệnh nhân bệnh bạch hầu được điều trị với kháng độc tố bạch hầu. Vì có một nguy cơ nhỏ có thể bị phản vệ nặng với huyết thanh ngựa trong kháng độc tố, do đó đầu tiên cần thử test trong da trước để phát hiện quá mẫn và phải trong tư thế sẵn sàng điều trị sốc phản vệ khi sử dụng kháng độc tố cho bệnh nhân.
Kháng sinh
Thuốc kháng sinh như penicillin hoặc erythromycin, giúp tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể và làm giảm thời gian lây nhiễm của người bị bệnh bạch hầu.
Ngoài ra, các điều trị hỗ trợ (như giảm đau, hạ sốt, dinh dưỡng, …) hoặc các điều trị biến chứng (suy hô hấp, viêm cơ tim, viêm thần kinh, …) tùy từng thể bệnh.
Phòng bệnh
Ngày nay, bệnh bạch hầu có thể phòng ngừa được bằng vacxin.
Vacxin bạch hầu thường được kết hợp với vacxin uốn ván và ho gà. Vacxin ba trong một được gọi là vacxin bạch hầu, uốn ván và ho gà. Phiên bản mới nhất của vắc-xin này được gọi là vắc-xin DTaP cho trẻ em và vắc-xin Tdap cho thanh thiếu niên và người lớn.
Lịch tiêm ngừa cho trẻ như sau:
-    2 tháng
-    3 tháng
-    4 tháng
-    16 - 18 tháng
-    4 - 6 tuổi
Vacxin bạch hầu có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh bạch hầu. Nhưng có thể có một số tác dụng phụ. Một số trẻ có thể bị sốt nhẹ, quấy khóc, buồn ngủ hoặc đau tại chỗ tiêm sau khi tiêm DTaP. Hỏi bác sĩ những gì phụ huynh có thể làm cho trẻ giảm thiểu hoặc làm giảm các tác dụng này.
Hiếm khi vắc-xin DTaP gây ra các biến chứng nghiêm trọng ở trẻ, chẳng hạn như phản ứng dị ứng (nổi mề đay hoặc phát ban trong vòng vài phút sau khi tiêm), co giật hoặc sốc. Một số trẻ em như những trẻ bị động kinh hoặc mắc bệnh hệ thần kinh khác thì không nên tiêm vacxin DTaP.
Tiêm nhắc lại
Sau khi đã hoàn thành 5 mũi trên ở thời thơ ấu (2,3,4 tháng, 16-18 tháng, 4-6 tuổi), người khỏe mạnh cũng cần tiêm nhắc lại vacxin bạch hầu để giúp duy trì khả năng miễn dịch. Vì khả năng miễn dịch đối với bệnh bạch hầu giảm dần theo thời gian.
Trẻ em được tiêm chủng đầy đủ theo khuyến cáo trước 7 tuổi thì nên được tiêm mũi đầu tiên nhắc lại vào khoảng từ 11 đến 12 tuổi. Lần tiêm nhắc tiếp theo được khuyến nghị 10 năm sau, sau đó lặp lại sau khoảng thời gian mỗi 10 năm. Tiêm nhắc lại đặc biệt quan trọng nếu người khỏe đi đến các khu vực thường gặp bệnh bạch hầu.
Chuẩn bị cuộc hẹn trước khi gặp bác sĩ
-    Viết ra bất kỳ triệu chứng nào mà bạn hoặc con bạn đang gặp phải, bao gồm bất kỳ triệu chứng nào có vẻ không liên quan đến lý do mà bạn đã lên lịch hẹn.
-    Viết ra thông tin cá nhân chính, thói quen chăm sóc trẻ.
-    Lập danh sách tất cả các loại thuốc, vitamin hoặc chất bổ sung mà bạn hoặc con bạn đang dùng.
-    Viết ra các câu hỏi để hỏi bác sĩ.
Mong đợi phản hồi của bạn từ bác sĩ
-    Khi nào con bạn bắt đầu có triệu chứng, biến chứng?
-    Các dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng như thế nào? 
-    Điều gì có thể cải thiện các triệu chứng?
-    Điều gì làm trầm trọng thêm các triệu chứng?
-    Sau khi khỏi bệnh, con bạn cần phải lưu ý những vấn đề gì?